Sau đây là 10 điểm mới đáng chú ý:
1. “Định danh” rõ hành vi kê khai, giải trình không trung thực
Luật PCTN năm 2018 và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP của Chính phủ chưa quy định cụ thể thế nào là không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập và giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm. Khắc phục hạn chế đó, tại Điều 3 Nghị định số 164/2026/NĐ-CP của Chính phủ đã giải thích rõ:
(1) “Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực là hành vi của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập dù biết rõ tài sản, thu nhập của mình, của vợ, chồng, con chưa thành niên phải kê khai nhưng đã cố ý không kê khai theo quy định”.
(2) Giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực là hành vi của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập đã cố ý kê khai không đúng sự thật về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm”.
2. Một mẫu duy nhất cho 4 phương thức kê khai
Nghị định số 164/2026/NĐ-CP ban hành một mẫu bản kê khai dùng chung cho cả 4 phương thức kê khai tài sản, thu nhập: kê khai lần đầu, kê khai hằng năm, kê khai bổ sung và kê khai phục vụ công tác cán bộ. Người kê khai phải ghi rõ 01 trong 4 phương thức kê khai nêu trên ngay tại tiêu đề của bản kê khai để thể hiện rõ đó là bản kê khai lần đầu hay theo phương thức nào.
Mẫu bản kê khai lần này, yêu cầu cung cấp chi tiết hơn về nhân thân (hệ số phụ cấp chức vụ, số điện thoại, quê quán). Đặc biệt, mỗi loại tài sản yêu cầu kê khai thêm "Nguồn hình thành" và "Tình trạng quản lý, sử dụng" để tăng cường tính minh bạch. Đồng thời, yêu cầu người kê khai ghi rõ các tài liệu minh chứng liên quan đến từng loại tài sản, thu nhập đã kê khai (nếu có).
3. Xác định lại, tập trung hơn nhóm đối tượng phải kê khai hằng năm
Kê khai hằng năm được thực hiện với những trường hợp sau:
(1) Người giữ chức vụ từ Phó Vụ trưởng và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; Giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại chính quyền địa phương.
Người thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý và đảng viên chuyên trách công tác đảng hoặc có vị trí việc làm ở các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy thực hiện việc kê khai hằng năm theo quy định của Đảng và quy định của pháp luật.
(2) Người giữ chức vụ từ Trưởng phòng và tương đương có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên công tác tại các cơ quan nhà nước; Trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại doanh nghiệp nhà nước ở các vị trí việc làm phụ trách trực tiếp công tác: tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.
(3) Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch UBND cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành danh mục cụ thể người có nghĩa vụ kê khai thuộc phạm vi quản lý.
4. Điều chỉnh ngưỡng giá trị tài sản phải kê khai
Theo quy định tại Nghị định số 130/2020/NĐ-CP, tài sản là tiền, vàng, kim cương, bạch kim, các kim loại quý, đá quý, cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp, giấy tờ có giá và tài sản khác mà mỗi loại tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên đều phải kê khai. Nay theo quy định mới, các tài sản nêu trên nếu có giá trị mỗi loại từ 150 triệu đồng trở lên mới phải kê khai.
Đối với tài sản có tính thống nhất, việc xác định giá trị để kê khai cần căn cứ vào bản chất và giá trị thực tế của tài sản, tránh việc chia tách không đúng bản chất tài sản để không thực hiện nghĩa vụ kê khai (Ví dụ: Kê khai nguyên “bộ bàn ghế 160 triệu” thay vì tách lẻ giá trị từng chiếc bàn, ghế).
5. Không chỉ kê khai tổng tiền mà phải “tách” rõ từng loại tiền
Nghị định số 130/2020/NĐ-CP đã yêu cầu kê khai về tiền (tiền Việt Nam, ngoại tệ) gồm nhiều loại như: tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi cá nhân, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam nhưng không quy định cụ thể việc kê khai riêng từng loại tiền.
Nay theo quy định mới tại Nghị định số 164/2026/NĐ-CP quy định rõ hơn việc kê khai tiền, theo đó tổng giá trị tiền phải kê khai được xác định theo giá trị quy đổi, đồng thời bản kê khai yêu cầu thể hiện cụ thể từng loại tiền như tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi cá nhân hoặc tổ chức.
6. Lần đầu đưa các khoản nợ từ 150 triệu đồng vào diện phải kê khai
Điểm mới đáng chú ý là không chỉ kê khai tài sản đang có mà còn phải kê khai các khoản nợ có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên: kê khai các khoản nợ bằng tiền, bằng hiện vật, ... của tổ chức, cá nhân; ghi rõ số lượng, chủng loại, giá trị; tài liệu minh chứng (nếu có).
7. Từ 300 triệu lên 1 tỷ đồng: Nâng mạnh ngưỡng kê khai bổ sung
Kê khai bổ sung được thực hiện khi người có nghĩa vụ kê khai có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 1.000.000.000 đồng trở lên (trước đây là 300 triệu đồng). Việc kê khai phải hoàn thành trước ngày 31 tháng 12 của năm có biến động về tài sản, thu nhập, trừ trường hợp đã kê khai hằng năm.
Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập được yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai cung cấp, bổ sung thông tin có liên quan, giải trình khi khi phát sinh biến động từ ngưỡng này.
8. Được điều chỉnh, bổ sung, đính chính bản kê khai nhưng phải có căn cứ
Mẫu bản kê khai theo Nghị định số 164/2026/NĐ-CP bổ sung mục riêng để người có nghĩa vụ kê khai thực hiện việc điều chỉnh, bổ sung các nội dung đã kê khai trước đây. Theo đó, người kê khai cập nhật nội dung thay đổi, bổ sung, điều chỉnh, đính chính, chỉnh lý, … tương ứng với nội dung đã kê khai tại Bản kê khai trước, nêu rõ nguyên nhân, lý do, kèm theo văn bản, tài liệu minh chứng (nếu có). Ví dụ, thay đổi về vị trí công tác, tình trạng hôn nhân, thay đổi do tài sản có giá trị nhỏ hơn 150 triệu đồng, do kết luận xác minh tài sản, thu nhập, …
Tuy nhiên việc kê khai thay đổi, điều chỉnh, bổ sung phải có căn cứ, làm rõ nguyên nhân, lý do thay đổi, điều chỉnh, bổ sung, kèm theo các văn bản, tài liệu minh chứng, nếu có.
9. Siết chặt xử lý vi phạm: kê khai, giải trình không trung thực có thể bị kỷ luật
Nghị định số 164/2026/NĐ-CP quy định cụ thể hơn hình thức xử lý kỷ luật đối với người kê khai có hành vi vi phạm. Việc xử lý được xem xét trên cơ sở nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi; động cơ, mục đích, nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.
Hình thức khiển trách được áp dụng đối với người kê khai không nộp bản kê khai sau khi đã được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đôn đốc bằng văn bản lần thứ hai; kê khai không trung thực đối với tài sản, thu nhập phải kê khai có tổng giá trị đến 10 tỷ đồng; hoặc giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực đối với tài sản, thu nhập có tổng giá trị từ 150 triệu đồng đến 10 tỷ đồng.
Hình thức cảnh cáo được áp dụng trong trường hợp tiếp tục không nộp bản kê khai đúng hạn sau khi đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách; kê khai không trung thực đối với tài sản, thu nhập có tổng giá trị trên 10 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng; hoặc giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực đối với tài sản, thu nhập có tổng giá trị trên 10 tỷ đồng đến 20 tỷ đồng.
Đối với người kê khai đang giữ chức vụ, hình thức cách chức được áp dụng khi kê khai không trung thực hoặc giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực đối với tài sản, thu nhập có tổng giá trị trên 20 tỷ đồng.
10. Kê khai, giải trình tài sản, thu nhập trở thành tiêu chí đánh giá cán bộ
Luật số 132 bổ sung quy định, việc kê khai, giải trình về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm là một trong những tiêu chí để đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức.
Một điểm mới đáng chú ý khác là Nghị định số 164/2026/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý cho việc kê khai tài sản, thu nhập trên môi trường điện tử khi đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ. Quy định này phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số, góp phần giảm thủ tục hành chính, thuận tiện trong lưu trữ, quản lý, tra cứu và từng bước hình thành cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập.
Các quy định mới không chỉ yêu cầu về tính trung thực, đầy đủ và minh bạch trong kê khai mà còn siết chặt trách nhiệm, tăng cường kiểm soát và xử lý vi phạm. Thực hiện nghiêm các quy định này là yêu cầu bắt buộc, góp phần kiểm soát chặt tài sản, thu nhập, phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, trách nhiệm, minh bạch.
